Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Thursday, 30 April 2015

TẠI SAO QGHC NAM CALI KHÔNG TỔ CHỨC "LỄ TƯỞNG NIỆM NGÀY QUỐC HẬN 30 THÁNG 4" THUẦN TÚY, RIÊNG BIỆT ???

MÀ PHẢI ĐÁNH LẬN CON ĐEN NÚP BÓNG VĂN NGHỆ ? TRỘN VĂN NGHỆ VÀO NGÀY QUỐC HẬN CÓ PHẢI THẬT SỰ TƯỞNG NIỆM NGÀY ĐAU THƯƠNG 30 THÁNG 4 KHÔNG ? HAY CHỈ LÀ MƯỢN CỚ ĐỂ TỤ HỌP ĂN NHẬU ?./- Mt68

Tường Thuật Văn Nghệ 30 tháng 4
Ngô Xuân Vũ & Trần Bạch Thu
        ... Là chứng nhân lịch sử và trước sự thật phũ phàng như vậy, nhân Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư năm 2015 các Cựu sinh viên  Hành Chánh thuộc Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Nam California đã đồng thuận phổ biến Bản Lên Tiếng về hiện tình đất nước trong buổi “Văn nghệ Tưởng niệm Ngày 30 tháng Tư - Bốn Mươi Năm Nhìn Lại”. Buổi Văn nghệ do Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Nam California tổ chức vào lúc 11 giờ trưa Chủ nhật, 26-4-2015, tại hội trường VNCR, trên đường Moran, thành phố Westminster; với sự đóng góp tiếng ca của đồng môn và các anh chị em nghệ sĩ thân hữu. Phần đệm nhạc (keyboard) do đồng môn Nguyễn Phú Hùng phụ trách. Phần MC do các đồng môn: Phạm Đức Thạnh, Ngô Ngọc Vĩnh và Đặng Mạnh Hùng đảm trách; trang trí sân khấu do đồng môn Ngô Ngọc Trác;  phối trí sân khấu (Stage Manager) do đồng môn Nguyễn Văn Sáu phụ trách. Cameraman: Lê Văn Mười.
        Mở đầu là thủ tục chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, quốc kỳ Hoa kỳ; phút mặc niệm để tưởng nhớ các chiến sĩ đã hy sinh ngoài tiền tuyến chống Cộng Sản; các giáo sư và đồng môn Quốc Gia Hành Cánh  đã bỏ mình trong cuộc chiến, trong các trại tù Cộng Sản, hay trên đường tìm Tự do…

        Tiếp theo, trong phần chào mừng của Ban Tổ chức, anh Trần Bạch Thu, Chủ tịch Ban Chấp Hành đã phát biểu: buổi văn nghệ hôm nay nhằm mục đích, qua lời ca tiếng hát, đưa chúng ta trở về nét đẹp của văn hóa nghệ thuật Miền Nam trước ngày bị Cộng Sản xâm chiếm. Ngoài ra còn có mục đích khác là gởi một thông điệp về quốc nội, để cổ võ cho các phong trào và cá nhân đang đấu tranh dũng cảm, đương đầu với bạo quyền Cộng sản. Tiếp đến, anh Trần Ngọc Thiệu, Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị tuyên đọc Bản Lên Tiếng của Hội Cựu Sinh Viên QGHC Nam California về tội bội tín và phản quốc của nhà cầm quyền CSVN. Bản Lên Tiếng gồm hai phần: phần nhận định về tình hình nước nhà trong suốt 40 năm qua và phần suy nghĩ chúng ta để thoát khỏi sự bế tắc hiện nay. Với Bản Lên Tiếng này, Ban tổ chức muốn bày tỏ chủ đích: buổi văn nghệ hôm nay không đơn thuần chỉ có tính cách giải trí. Mà thông qua đó, nói lên lập trường chính trị của tập thể CSV/QGHC. Đồng thời cũng để gởi một thông điệp đến đồng hương trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại: chúng ta, những người tỵ nạn không chấp nhận chủ nghĩa Cộng sản tàn bạo phi nhân ... (Click vào tựa đề trên để xem tiếp)

CON ĐIẾM THÚI VIỆT CỘNG NẰM VÙNG MA -ĐẦU -SẦN NGUYỄN - VIẾT THƯ NẦY ĐỂ KIẾM PHIẾU -GIẢ BỘ BI HẬN CHO ĂN KHỚP NGÀY 30-4. NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN KHÔNG DẠI GÌ BỎ PHIẾU CHO TÊN VẸM CÁI NẦY./- Mt68

Tâm Thư về Ngày 30 Tháng 4 của cựu Phó Thị Trưởng Madison Nguyễn
Ngày 30, Tháng 4, Năm 2015
Kính thưa qúy bậc Trưởng Thượng
Kính thưa qúy Hội Đoàn, Đoàn Thể Nguời Việt Quốc Gia
Kính thưa qúy Hội Đoàn Cưụ Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Kính thưa qúy Cơ Quan Truyền Thông và Báo Chí
Kính thưa Quý Vị:
Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975 đánh dấu một ngày đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam.
Saì Gòn thất thủ, Miền Nam Việt Nam rơi vào tay Đảng Cộng Sản, tạo nên cảnh nuớc mất nhà tan và ảnh huởng của nó vẫn còn đuợc cảm nhận nhiều cách lớn, nhỏ khác nhau ở Việt Nam, trong Cộng Đồng người Việt tị nạn Cộng Sản và gia đình chúng ta.
Sau biến cố đó, hàng triệu người đã ra đi tìm tự do ở khắp nơi trên thế giới.  Hàng trăm ngàn người đã chết trên biển cả hay trong rừng sâu.  Những người vượt biển được gọi bằng “boat people” – “thuyền nhân” – và tôi là một người trong số đó.  Sau một thời gian sống trong nhiều trại tỵ nạn ở Phi Luật Tân, cuối cùng gia đình của chúng tôi đã đến được Hoa Kỳ để bắt đầu cuộc đời mới.
Trong ngày hôm nay sau bốn mươi năm và hàng năm, chúng ta không thể quên ngày đau thương này. Chúng ta không thể quên những vị anh hùng Quân Nhân Quân Lực VNCH và 58 ngàn anh hùng Hoa Kỳ đã hy sinh mạng sống để bảo vệ và gìn giữ tự do, và nhớ đến những Quân Dân Cán Chính VNCH đã đóng góp đời sống của mình vào sự nghiệp chiến đấu và bảo vệ Tự Do cho miền Nam Việt Nam, và nhớ đến những nhà lãnh đạo tôn giáo đang bị nhà cầm quyền Cộng Sản cầm tù và những nhà đấu tranh cho Tự Do và Nhân Quyền.
Nhân dịp lễ Tưởng Niệm 40 Năm Quốc Hận, chúng tôi luôn luôn biết ơn đất nước Hoa Kỳ đã cho gia đình tôi và gần hai triệu người Mỹ gốc Việt cơ hội theo đuổi “giấc mơ Hoa Kỳ” để có thể vươn lên trên quê hương thứ hai. Trong giờ phút đen tối nhất của chúng ta, người Hoa Kỳ đã đem ánh sáng đến cho những người đã thoát khỏi sự áp bức để giúp xây dựng một đời sống tốt đẹp hơn cho gia đình của họ và những thế hệ tiếp nối.
Trân trọng,

Madison Nguyễn
Cựu Phó Thị Truởng Thành Phố San Jose
Ứng cử viên Dân Biểu Tiểu Bang California Khu Vực 27

TRONG VỤ THAY ĐỔI ĐỘT NGỘT NẦY- CHẮC CHẮN CÓ BÀN TAY LÔNG LÁ CỦA TÊN NGHỊ VIÊN VIỆT CỘNG NẰM VÙNG NGUYỄN TÂM XỎ LÁ./- Mt68

THU GOI CHO FRANKLIN 1THU GOI CHO FRANKLIN 2
Ông Rudy  Chủ tịch Khu học chánh đã họp và thay đổi tên buổi lễ "Tưởng Nhớ Tháng Tư Đen" thay vì "Tháng Di Sản".

Spiegel phỏng vấn Cựu Tổng thống VNCH, Nguyễn Văn Thiệu (1979)!
Hòa bình của nấm mồ
  • Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Spiegel

Phạm Thị Hoài dịch

129
SpiegelThưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để “bóp nát trái tim Hoa Kỳ”. Vì sao ông lại cản trở như vậy?
Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.
Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.
.
SpiegelKissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ý. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy vì ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ý với các đề xuất của Mỹ chỉ vì ông chắc mẩm rằng đằng nào thì Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.
Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rõ rằng đối với người Mỹ đã đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ vì thế mà họ vội vã như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền hòa bình lâu dài.
.
SpiegelKissinger có ý cho rằng ông không thực sự muốn ký kết một thỏa thuận về hòa bình, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng ông đồng ý với nhiều đề xuất từ phía Mỹ – trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ vì trong thâm tâm ông không tin rằng hòa bình sẽ được ký kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đã bịp, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải ngửa bài lên?
Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ thì có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi thì phải ở lại Nam Việt Nam.
Chúng tôi có quyền chính đáng để đòi hỏi một hiệp định hòa bình toàn diện. Không phải là vài ba năm hòa bình, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.
.
Spiegel: Vậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái Bình Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?
Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đã không còn là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đã loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. Vì sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm dò, tiết lộ thông tin trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đã rồi.
.
Spiegel: Tức là ông đã nắm được tình hình?
Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rất rõ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đã không hình dung sai điều gì và đã làm chủ tình thế. Không có gì phải lo lắng, và tôi đã rất vững tâm.
.
SpiegelKhi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một mình và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.
Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, vì Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.
.
SpiegelVà ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?
Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đã hình dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã trình bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của mình.
Quan trọng hơn, tôi đã bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ý với tôi ở mọi điểm; về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía…
.
Spiegel: … và mang tính tượng trưng?
Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rõ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ý rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn thì chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy thì đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lý hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.
.
SpiegelMỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.
Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hãnh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng thì chúng tôi không thiếu.
.
Spiegel: Ông đánh giá thế nào về tình thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc “phi Mỹ hóa” cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đã thể hiện rõ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?
Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài Gòn vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đã nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch trình mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: “Hãy giúp chúng tôi giúp ông.” Tôi đáp: “Tôi giúp ông giúp chúng tôi.” Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.
.
SpiegelNhưng không đưa ra một lịch trình cụ thể?
Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.
.
SpiegelỞ thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần thì Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?
Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đã ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.
.Spiegel: Có lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi ký của Kissinger cho thấy khá rõ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng “đình chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đã khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một kênh TV khác.” 
Rõ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?
Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đã tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.
.
Spiegel: Ông đã oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng mình chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá trình đàm phán, còn sau khi ký kết thì Hà Nội phải rút quân.
Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi ký rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.
Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đã chấp thuận như Kissinger nói thì lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đã chẳng phản đối quyết liệt như thế.
Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đã tuyên bố rõ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó thì không có ký kết.
Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: “Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận.” Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.
,
SpiegelCó lẽ Liên Xô không thể làm khác, vì Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ còn phủ nhận việc họ đã đưa quân đội chính quy vào miền Nam.
Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nhìn ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh thì chúng ta phải nhìn vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.
.
SpiegelÔng có lập luận như thế với Kissinger không?
Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: “Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lãnh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đã ký kết thành công một hiệp định hòa bình với Liên Xô không?”
.
SpiegelÔng ấy trả lời sao?
Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lý. Còn gì mà nói nữa.
.
SpiegelNhưng Kissinger thì có câu trả lời trong hồi ký. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, vì họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng “lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất.”
Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được gì từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao.
Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, vì sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho mình là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ?
Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đã có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những gì Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi thì không. Vì thế mà tôi đã cương quyết đòi Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn hòa bình thì họ ở lại miền Nam làm gì?
.
Spiegel: Vậy Kissinger nói sao?
Nguyễn Văn Thiệu: Còn nói gì được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và đảm bảo việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực thì họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.
.
SpiegelKissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đã đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, còn Sài Gòn thì muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.
Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi mình là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Bắc Việt giao nộp lãnh thổ. Tôi chưa bao giờ đòi có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?
.
SpiegelVề vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đã đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi ký, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông còn chấp thuận.
Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đã thay đổi lập trường và tìm cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách huơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: “Hình ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!” Hoặc: “Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ.” Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đã biết, tiết lộ thông tin cho báo giới và đặt tôi trước sự đã rồi.
Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: “Ông ta đòi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về.” Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: “Ông mà chống thì sẽ bị cắt viện trợ.”
.
Spiegel: Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới hình thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ý kiến ông trước.
Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ý kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói “Không”, nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.
.
SpiegelBây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đã đồng ý rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ý tưởng đó ban đầu là của ai?
Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ý định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một mình. Đến khi phía Mỹ đề xuất thì chúng tôi sẵn sàng đồng ý, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rõ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, còn phía Mỹ thì hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.
.
SpiegelVì sao? Vì Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?
Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng vì chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ thì không đời nào chúng tôi đồng ý thực hiện chiến dịch tại Lào.
.
SpiegelKissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, vì gần như không có báo vụ viên nói được tiếng Anh.
Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có thì chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đã mất rất nhiều phi công trực thăng. Vì thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.
.
SpiegelTinh thần binh lính bị suy sụp?
Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả tiến độ của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng.
.
SpiegelKissinger nêu ra một lý do khác. Rằng ông đã lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó thì không đời nào họ đồng ý tham gia chiến dịch này.
Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lý. Nếu TS Kissinger nói thế thì ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đã rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết gì?
.
SpiegelTức là ông đã thông báo cho họ?
Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức hình một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: “Nhát như cáy”. Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.
.
SpiegelMột điểm gây rất nhiều tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi ký của Kissinger thì ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đã thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà còn ủng hộ đề xuất này.
Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định hòa bình. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm thì hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.
.
SpiegelKissinger viết: “Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác.” Phía Mỹ đã không hiểu rằng ông đem những “chiến thuật né tránh” mà “người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc” ra dùng.
Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép mình dùng những thủ đoạn nào đó.
.
SpiegelKhi Mỹ đã rút, còn Hà Nội thì được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đã thua trong cuộc chiến này?
Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đã hứa khi chúng tôi đặt bút ký hiệp định. Ngay cả khi ký, tôi đã coi đó là một nền hòa bình tráo trở.
Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. Vì hai lý do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.
.
SpiegelMặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào.
Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được đảm bảo là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực lòng giữ lời hứa thì chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.
.
SpiegelVề điều này thì ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, vì sau đó Tổng thống Mỹ không còn đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?
Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa thì đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.
.
SpiegelNếu Hoa Kỳ giữ lời thì theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?
Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.
.
Spiegel: Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?
Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đã ký kết, vì chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đã nói, mà hiệp định đó còn được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc đảm bảo.
.
SpiegelTrong cuốn hồi ký, TS Kissinger có những bình luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông thì bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao “trí tuệ”, “sự can đảm”, “nền tảng văn hóa” của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào “thái độ vô liêm sỉ”, “xấc xược”, “tính vị kỷ chà đạp” và “chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng” trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. Vì thế, cuối cùng Kissinger nhận ra “sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực”. Ý kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?
Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét gì về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.
.
SpiegelHay ông đã làm gì khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?
Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đã ngạc nhiên vì gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi mình là vô cùng quan trọng.
Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, vì thật chẳng bao giờ tôi có thể hình dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.
.
SpiegelNhư trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nhìn xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn.
Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc phòng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đã rất bất ngờ vì Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.
.
SpiegelTrong hồi ký, Kissinger phàn nàn là đã bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon còn quá lời hơn. Theo Kissinger thì Nixon đã gọi ông là “đồ chó đẻ” (son of a bitch) mà Nixon sẽ dạy cho biết “thế nào là tàn bạo”.
Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép mình đáp lại những lời khiếm nhã, thô tục đó của Nixon, vì tôi xuất thân từ một gia đình có nề nếp.
Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker thì đơn giản chỉ vì chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đã cần đến 4 năm, vậy vì sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong vòng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài lòng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ý kiến Quốc hội.
.
Spiegel: TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ “lòng oán hận độc địa”.
Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đã có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.
.
SpiegelKissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn “thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng” của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?
Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.
.
SpiegelKissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu “theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường vòng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề”, rằng ông “chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện”.
Nguyễn Văn Thiệu: Hãy thử đặt mình vào tình thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đã thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những gì mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đã tin tưởng rằng đồng minh của mình sẽ không bao giờ lừa mình, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi.
Các ông có hình dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một.
Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị gì khác thì Kissinger phải trở lại hội ý với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy.
Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi trình ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định hòa bình sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?
.
Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?
Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đòi bản tiếng Việt, đòi bằng được. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đã soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế thì có chân thành và trung thực không?
.
SpiegelMột số quan chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ý kiến của ông thì thế nào?
Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.
.
SpiegelNhưng Kissinger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy.
Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ tìm cách ép chúng tôi phải đồng ý. Để họ có thể hãnh diện là đã thoát ra được bằng một “thỏa thuận danh dự”. Để họ có thề tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: “Chúng ta rút quân về nước, chúng ta đảm bảo việc phóng thích tù binh Mỹ.” Và ở ngoài nước Mỹ thì họ nói rằng: “Chúng tôi đã đạt được hòa bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự.”
.
SpiegelKissinger viết như sau: “Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh.”
Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nhìn miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay thì biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định hòa bình, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đã biện hộ cho ác quỷ.
.
SpiegelCó bao giờ ông thấy một chút gì như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đã làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của mình, Kissinger viết rằng: “Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt.”
Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy thì tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy còn tỏ ý sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ còn sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.
.
SpiegelCá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?
Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực lòng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi thì nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đã lập công với miền Bắc thì may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền hòa bình thực sự với Hà Nội thì miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đã không như vậy. Nhìn vào những hậu quả của nền hòa bình ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục hình tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đã gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ấy đã đạt được. Đó là hòa bình của nấm mồ.
SpiegelXin cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.
.
(Nguồn: “Die Amerikaner haben uns verraten“, tạp chí Spiegel số 50/1979. Những người thực hiện: Engel, Johannes K., Lohfeldt, Heinz P.)
 
 ................................................................................................................................................................
 30 tháng 4, ngày quốc hận, hỏi tội tên này.....

 
Henry Kissinger bị dân Mỹ kêu gọi phải bị khởi tố vì sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa (Nam VN)
 
x10968581_10152677800718181_3970583223121050194_n.jpg,qoh=41bcff2d0bd23937d5133998c4df667b,aoe=5562C7E6,a__gda__=1432060291_91960086ebb6f38d228d70bb6bc01b41.pagespeed.ic.1VrgBnkCl9mGoPBvh6Jt 
Một người chống đối đã đưa còng số 8 trước mặt Kissinger
 
Để biết thêm về những gì mà Henry Kissinger đã gây ra, CodePink nói tất cả mọi người cần tham khảo thêm về
Việt Nam: Từ năm 1969 đến năm 1973, Kissinger, làm việc cho Richard Nixon, gây ra một cuộc chiến tàn khốc giữa hai miền Nam Bắc. Sau đó, vì muốn đi đêm với Trung Cộng trong chính sách bảo vệ Đài Loan và bỏ rơi miền Nam Việt Nam, Campuchia và Lào, Henry Kissinger đã để mặc cho 3 nước Đông Dương này rơi vào thảm trạng. Nửa thế kỷ sau, tàn dư từ những bài toán của Henry Kissinger vẫn còn làm tan nát con người và các đất nước này. Đặc biệt sự sụp đổ của chế độ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã trở thành một vết nhơ khó quên trong lịch sử của Hoa Kỳ.
Chile: Henry Kissinger là một trong những kiến trúc sư chính của cuộc đảo chính ở Chile vào ngày 11 Tháng 9 năm 1973, một cuộc đảo chính lật đổ chính phủ dân cử của tổng thống Salvador Allende. Đất nước này đã phải chịu 16 năm đàn áp, tra tấn và tử vong dưới sự cai trị của một người bạn của Kissinger, trùm độc tài phát xít Augusto Pinochet.
Đông Timor: Năm 1975, trong khi làm việc cho Tổng thống Gerald Ford, Kissinger pre-phê duyệt việc yểm trợ cho nhà độc tài Suharto của Indonesia xâm lược đẫm máu của những hòn đảo nhỏ của Đông Timor. Các cuộc xâm lược này đã được thực hiện với vũ khí trang bị của Mỹ. Bởi thời gian chiếm đóng Indonesia cuối cùng kết thúc vào năm 1999, 200.000 Timor với kết quả 30 phần trăm dân số đã bị xóa sổ.
Nhà văn Jon Queally, người bảo vệ hành động của nhóm CodePink nói rằng “Những trang sử đẫm máu đó chính là di sản của Kissinger. Cái chết. Sự tàn phá. Đau khổ. Cùng cực. Chế độ độc tài. Henry Kissinger chính là một kẻ giết người, một kẻ nói dối, một kẻ lừa đảo, một kẻ côn đồ.”
(Lược dịch từ Reverbpress / Ảnh: Reuters 
Tên đồ tể Kissinger...sẽ đền tội
30 Tháng Tư Lại Về
 
Vương Mộng Long


Bây giờ là tháng Tư, trong ký ức tôi nhng kỷ niệm ba mươi năm trước li hin v, rõ mn một như thể là nó mi xy ra ngày hôm qua, hôm kia. Bây giờ là tháng Tư, tôi lại nhớ đến trận đánh oai hùng cuối cùng ca Quân Lc Vit-Nam Cng-Hòa, trn Xuân-Lc! Tôi bùi ngùi hồi tưởng nhng giây phút vinh quang ca chiến thắng để đời này, cùng nhng ti nhc tiếp theo sau đó, khi quê hương nát tan. Những dòng viết lên sau đây là để tưởng nim nhng thuc cp của tôi đã ngủ yên giấc tháng Tư, bên con suối Rét (Xuân-Lc), trên mt ngọn đồi không tên ở Long-Thành, và trong đường phố H-Nai (Biên-Hòa).
Đầu tháng Tư năm 1975, Quân Đoàn II không còn nữa. Vì liên đoàn trưởng và liên đoàn phó vắng mt, nên tôi được chỉ định nhn nhim vụ chỉ huy và hướng dẫn Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân từ Qung-Đức tìm đường ra biển để bt tay vi quân bạn. Khi liên đoàn được trực thăng vận về Phan-Thiết thì Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân được đưa thẳng về sân bay Long-Khánh đặt thuc quyn xử dng ca Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Ngày đầu đặt chân xuống phi trường Xuân-Lc (6/4/1975) tôi không hề có ý nghĩ rằng tại nơi này chỉ mấy hôm sau, đơn vị tôi li có dp tham dvào mt trận đánh long trời lở đất.
Ngày xưa tôi rất mê Rommel, tôi đã tìm đọc nhiu sách viết về “Con Cáo Sa-Mạc” này và tôi mơ tưởng có ngày được đánh những trn thn sầu như Rommel đã làm. Trận Xuân-Lc là lần đầu trong đời lính, tôi được thỏa mãn ước vọng đọ sc so tài vmột địch thủ nặng cân hơn về vũ khí, đồ sộ hơn về quân s. Vi tôi, trn Long-Khánh là mt trận đánh “để đời” cho những tay cm quân chuyên nghêp. Trong trận đánh này, mũi dùi tiến công chính bằng cơ giới ca Cng-Quân nhằm đánh chiếm Tòa Hành-Chánh Tnh Long-Khánh đã bị Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân bgãy hoàn toàn. Trong khu vc trách nhim ca Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã có ít nhứt là by chiến xa Cng-Sn bị bn cháy, và một trung đoàn bộ binh địch bị loi ra khi vòng chiến.
Rạng đông 9/4/1975 trận Long-Khánh bắt đầu. Súng nổ như bắp rang khắp nơi trong thành ph, ngoài vòng đai. Đủ loại đại bác thét gầm, đạn xé gió ào ào ti tấp tưới trên mc tiêu ca cả hai phía. Những đám cháy khôn g người cha, la càng lúc càng cao, thn ha tự do tung hoành. Máy truyền tin ơi ới gi nhau. Nhng thân hình ngã xung, nhng tiếng hô xung phong nghe rn tóc gáy. Nhng cánh F 5 thét gào, lên, xung, thả hết đợt bom này tới đợt bom khác lên đầu địch. Nhng chiếc Khng-Long AC 119 bao vùng cả ngày lẫn đêm vi nhng họng đại bác 20 ly gm rú tng hồi. Đáp lại, địch cũng trả đòn bng nhng chùm 100 ly và 37 ly phòng không nở hoa trên mây. Nhng chiếc T 54 hung hãn khạc đạn không ngng, nhng cái lô ct ngả nghiêng vì trúng đạn đại bác 100 ly của xe tank địch.
Trong những ngày đầu tháng Tư ở Long-Khánh, một góc địa cầu đã rung rinh vì bom đạn! Địch đông gấp ba,
bn ln quân bạn, được T 54 trang bị đại bác 100 ly dẫn đường. Pháo ym ca Cng-Sn gồm đủ loi hng nặng: đại bác 130 ly, 122 ly nòng dài, 105 ly, 75 ly sơn pháo, cối 120 ly, ci 82 ly, và phòng không 100 ly, 37 ly. Thậm chí trong ba ngày đầu địch dùng cả phòng không 37 ly để bn trc xạ vào Tri 181 Pháo Binh cSư Đoàn 18, nơi tôi đặt Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân. y vy mà qua hàng chục đợt xung phong, đoàn chiến xa của “Con Cháu Bác” cũng không làm cách nào vượt nổi khúc xương khó nuốt là cái doanh trại bé tí teo đó để xông thng vào Tòa Hành-Chánh tỉnh, nơi ông Đại Tá BĐQ Phạm Văn Phúc (K10 VB) tỉnh trưởng, đang trợn tròn con mắt theo dõi tên đàn em về từ Pleime chơi trò ú tim với xe tank địch.
Khi bánh xích ca chiếc chiến xa đầu tiên vướng vào cun kẽm gai vòng nơi góc rào tây bắc ca Tri Pháo Binh 181 thì cũng là lúc đoàn quân xâm lăng khựng li, hong hn bi nhng tiếng thét, “Biệt Động! Sát! ” ... “Biệt Động! Sát!” Lũ giặc hung hăng không ngờ Biệt Động Quân đang có mặt nơi đây! Mt quả M 72 làm cho chiếc PT 76 xu số cháy bùng; nhng cán binh Bc-Vit tùng thiết vi vàng chy tri chết về hướng rng lau. Như thế là, chúng tôi đã ra mặt đương đầu với đoàn chiến xa Cng-Sn Bc-Vit ngay từ khi trận đánh mi mở màn. Biệt Động! Sát!”, “Biệt Động! Sát!” tiếng hô vang dy mt góc tri! Có cả một giang sơn hướng đông nam thị xã cho chúng tôi mc sc tung hoành !
Ngày nào cũng như này nấy, sau những màn pháo kích như mưa, T 54 có bộ binh tùng thiết, li tng đợt, từng đợt ào ào xung phong vào vị trí tử thủ của chúng tôi. Nhưng những tổ chống tank ba người của TĐ 82 BĐQ ẩn hiện như ma trơi, sau ô mối, sau gc xoài, trong bi chui, cứ từ từ rang hết con cua T 54 này đếcon cua T 54 khác. Yên chí vì có chỗ dlưng là lực lượng bở phía sau, tiểu đoàn tôi đánh vùi với chiếxa địch cả tun lễ không biết mt. Toán dit tank này bị loi, toán khác lên thay. Chúng tôi đã làm cho địch tn hi nng nề. Chúng tôi đã đánh cho chúng nó “tà đầu” như ý của Chuẩn Tướng Tư Lệnh mt trn.
Săn đánh xe tank là cả mt nghệ thut, nó còn là mt cái thú na, cái thú vui chết người! Hơ hỏng mt chút thôi là mt mạng như chơi. Trong số mười hai Biệt Động Quân Pleime tử trở Long-Khánh tháng Tư 1975 đã có bảy người chết trong khi săn đuổi xe tank CSBV.
  •  Mi chiến c, mỗi vũ khí đều có chỗ yếu ca nó. Cái bộ phn phun khói của xe tank là cái “Gót chân Achilles” của xe tank CSBV. Tt cả nhng chiếc tank địch bị TĐ 82 BĐQ tiêu diệt trong trn Xuân-Lđều bị bn từ phía sau đuôi, nơi phun khói.
  •  Đánh tank cũng có qui luật. Việc đầu tiên là “tỉa” tên xạ thủ 12,8 ly, nó là tai mt ca chiếc tank, nó có mt chân trái hoc phi bị khóa vào dây xích trên ghếphòng không. Vic thứ nhì là “bung” một trái lựu đạn khói hoc lân tinh làm màn chn che mt cái tank bn ca nó ở cách nó không xa; cây phòng không trên chiếc tank thứ nhì là tử thn gi chết. Vic thứ ba tht là gin d, cứ đứng xổng lưng
bóp cò cây M 72 nhm ngay phần phun khói sau đít cái tank mục tiêu, đây là phần mng nht, dễ bn thng nht ca chiến xa. Mt tiếng “bùm!” rồi tiếp sau đó là xăng và đạn trong xe cháy nổ “lóc! tóc! ùm! ùm!” ngọn la dâng cao, khói dâng cao. Xong !
Mi ln mt chiếc PT 76 hay T 54 bị bn cháy, cột khói chưa lên cao khỏi ngọn cây thì người Anh Cả ca chiến trường đã có mặt trên vùng.“Tiên Giao đây Hằng Minh gọi!”
“Hằng Minh, Tiên Giao nghe!”
“Come on! Gắng lên nghe em! Đánh cho nó tà đầu hết cc cựa! Okay?” “Vâng, tôi nghe 5, đánh cho nó tà đầu hết cc cựa!”
“Okay! You’re a man! Don’t let ‘em run away! Okay?”
“Vâng, không cho nó ôm đầ
u mà chạy!”
“Kill ‘em! Kill ‘em! Okay!”
“Vâng! Đây là cái tank thứ (2) (3)... đó nghe Hằ
ng Minh! Nó vào cái nào, tôi hạ cái n
ấy nhé!”
“Okay! I like the way you fight!”
“Vâng, tôi nghe rõ 5!”
“You’re great! You’re excellent!”
Sau khi thị sát trận địa và khích lệ tinh thần tôi, người Anh Cả bay sang mt trận hướng tây thị xã, trên đường bay, ông liên tục đối thoi vi vị chỉ huy trưởng phòng thủ Xuân-Lộc, Đại Tá Lê Xuân Hiếu (K10 VB) Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43, Sư Đoàn 18 Bộ Binh cũng bằng ngôn ngữ na Vit na M.
 Người Anh Cả ca mt trn này là Chuẩn Tướng Lê Minh Đả(K10 VB) Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Ông ly danh hiệu đàm thoại là Hằng Minh, tên người em rut ca ông, Trung Tá Lê Hng Minh
là người hùng TQLC, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 (Trâu Điên) năm xưa đã tửtrn trên chiến
trường Tha-Thiên. Tiên Giao là tên đứa con gái áp út của tôi, cũng là danh xưng truyền tin tôi chn cho mình trong trn
đánh này.
Mt ngày githáng Tư năm 1975, ngoài vòng đai phòng thủ, mt chiếc T 54 chy lc loài. Cái ng khói ca nó lãnh trn mt quả M 72 ca toán dit tank của Đại Đội 1/ TĐ 82 BĐQ. Anh binh nhì Phan Thọ trong toán hộ tng của TĐT 82 BĐQ cùng với ông phóng viên nhà báo lao vt về hướng súng n. Ít phút sau tôi nghe choang choác, tiếng phòng không 12,8 ly nổ dòn ngoài xa. Trong máy PRC 25 tiếng Th/úy Đặng Thành Hc, ĐĐT 1/82 BĐQ báo cáo, thằng Thọ bị thương nặng, xin tản thương.
Thì ra anh B2 Thọ gan dạ này thy chiếc T 54 đã nm bất động; anh leo lên gỡ khẩu phòng không đem về cho thy. Không ngờ còn mt chiếc chiến xa T 54 khác nn trong bụi lau cách đó không xa. Thấy anh đứng nghênh ngang sau pháo tháp, nó qut cho anh một tràng 12,8 ly. Anh rơi xuống đất như con chim bị ná. Ruanh đổ ra lòng thòng, máu tuôn như xối. Anh phóng viên và một người lính trong toán dit tank khiêng Thọ về sân bay. Trung Sĩ 1 Chiến, y tá ca tiểu đoàn phải dùng cả mt tấm băng lá to bằng hai bàn tay xòe để che cho rut ca Thọ khi phòi ra. Mt Thtái xanh, môi run run:
- Thiếu Tá đừng la em nhé! Em thy cây súng dễ ăn quá, không ngờ ti nó bn lén em!
Tôi an i Th,
! Thiếu Tá không la em đâu, nằm im đó chờ xe, Hoàng Long sẽ đem em đi tản thương!
Hoàng Long là danh xưng của Đại Úy Ngũ Văn Hoàn, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân.
Tôi m
t mặt lo xin pháo binh trong vòng đai trực xạ vào vị trí chiếc xe tank còn li, mt mặt điều động ĐĐ1/TĐ3/Trung Đoàn 43 BB đánh bọc bên phi tiếp tay cho Thiếu Úy Học ĐĐ1/82 có thì giờ dùng km gai concertina quây quanh chiếc xe mi bị bn cháy. Chỉ có concertina mới ngăn cản hu hiệu được bước tiến ca chiến xa địch. Con đường độc nhất để tiến quân bng xe tank của địch nhm vào sân bay Long-Khánh đã bị đan chằng cht km gai vòng. Chiếc tank mi bị cháy nằm hơi xa ngoài hàng rào và nó là chiếc T 54 thứ tư bị sơn lên pháo tháp dòng chữ “Tiểu Đoàn 82 BĐQ diệt tank”. Năm 1981 tại Tri Ci To Z30 C Hàm-Tân, có mt thiếu úy thuộc LĐ 81/ BCND tên là Nguyễn Văn Vinh tìm gặp tôi, anh nói,
Tháng 5 năm 1975 em bị nhở Long-Khánh, em ở trong toán tù binh bị bắt đi chùi những chữ ‘TiểĐoàn 82 BĐQ diệt tank’ viết trên bn cái tank T54 và mt cái lội nước PT 76 ở bìa rào phòng thủ Xuân-Lc. Công nhn tiểu đoàn anh đánh tank tuyệt quá!”
Chiếc xe tản thương củTrung Đoàn 43 đã đưa B2 Phan Thọ về ngã ba Tân-Phong; tháp tùng có Đại Úy
Hoàn, anh phóng viên nhà báo và Trung Sĩ 1 Chiến, y tá Biệt Động Quân. Khi quay trở về vị trí phòng th, ông Đại Úy Tiểu Đoàn Phó kể li chuyện dưới đây:
Xe t
ới BTL/SĐ 18 /HQ thì Thọ rt mệt vì máu ra đã nhiều, anh xung xe ngi dựa lưng vào một gc xoài, chờ Đại Úy Hoàn đi tìm sĩ quan quân y sư đoàn xin tải thương.
Bt ngờ Tướng Tư Lệnh từ trong lều bước ra; thy Th, ông hi,
- Em là lính ca ai? Bnh gì? Mun về Sài-Gòn h?
Thọ im lng mở tấm băng lá cho Tư Lệnh thy vết thương của mình; bt ngờ bộ rut ca anh trào ra khi ming vết thương, máu anh tuôn xối x. Anh y tá vội thưa,
- Trình Thiếu Tướng, anh này là lính Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân, nh bị phòng không bắn khi đang gỡ khu 12,8 ly trên cái chiến xa va bị bn cháy. Thiếu Tá em cho phép ảnh được tản thương về Sài- Gòn đó Thiếu Tướng.
Tư Lệnh la ln,
Quân y đâu băng bó cho chú em ngay!
Ông quỳ xung tự tay n từng đoạn rut của người lính vào bng của anh ta. Người y tá vi vàng làm phn sự ca mình tiếp tay với Tư Lệnh.Đại Úy Hoàn va quay lại chưa kịp chào trình diện, thì Tư Lệnh đã lớn tiếng,
Phi hành đoàn C&C đưa gấp chú em này về Cng-Hòa cho tôi.
Quay qua Thọ, Tướng nhẹ ging,
- Em là lính ca Thiếu Tá Long, em can đảm lm, qua sẽ cu em!
Thọ lí nhí,
Cám ơn Thiếu Tướng!
rồi nó quay qua Đại Úy Hoàn,
Cho em điếu thuốc đi Đại Úy.
Đại Úy Hoàn chưa kịp móc túi ly thuc cho Thọ thì Tướng đã có sẵn điếu thuốc lá đưa vào môi người lính can trường. Ông mt tay che gió, mt tay bt la mi thuc cho Th. Mt Thọ tái xanh, nhng thớ tht trên má bắt đầu co git. Thọ hút một hơi thuốc dài, mt Thọ long lanh. Cht anh ngoác miệng cười,
- Khu phòng không còn mi cáo cạnh, nước thép xanh biếc thấy mê luôn Đại Úy ơi!
Ông Đại Úy Hoàn an i,
- Giờ này chc tụi nó đã mang khẩu súng y về np cho Thiếu Tá rồi. Mày nói đúng đó, nó còn mới cáo cạnh, hèn nào mày không mê nó đến đổ rut luôn!
Thọ cúi đầu cười xn ln.
Cái bảng nhôm sơn đỏ có sao trắng được lt mặt ra đàng sau trở thành cái bng nhôm màu trng thanh khiết bên hông chiếc C&C. Không bng sao, cái trực thăng chỉ huy trở thành gin dị bình thường như ngàn vạn chiếc tàu khác. Trước khi lên máy bay, Thọ còn ra dấu cho Đại Úy Hoàn li gần để anh nhn nhủ một điều gì quan trng lm,
Em đi rồi không có ai pha cà phê sáng cho Thiếu Tá. Đại Úy nhớ nhc thng Bích khi pha cà phê cho Thiếu Tá thì cho ít đường thôi! Thiếu Tá không thích ung ngt lắm đâu. Nhờ Đại Úy nhn vi Thiếu Tá rng, khi bnh, xut vin là em lên vi Thiếu Tá ngay. Thôi em đi đây!
Không rõ Tư Lệnh có nghe li nhn ca anh lính Biệt Động Quân gi cho thy của anh ta không, nhưng rõ ràng đôi mắt Tư Lệnh rưng rưng. Chiếc trực thăng khuất trong vòm mây từ lâu mà cánh tay Tư Lệnh còn vtheo chưa hạ xung.
Đây không phải là lần đầcái can trường ca thuc cấp làm tôi cúi đầu kính phục. Mà đã nhiều ln trong quá khứ, dưới quyn tôi không thiếu những người lính dũng cảm như thế. Thi 1966 vùng triền sơn Quảng-Nam đầy ry nhng hng súng bn ta. Cứ nghe tiếng “tắc cù!” là chú Hạ Sĩ Nguyn Hng Phong lại đưa cái thân cao ngng còng queo ca chú che cho tôi, chú nói,
- Em phi che cho Thiếu Úy, em trúng đạn có mình em chết, Thiếu Úy trúng đạn cchục người chết theo.
Rồi cũng có lần chú bị bn toác nón sắt vì đưa thân che chở cho tôi, khi đại đội tôi chạm địch gần ga Hương- An, Tam- K.
Năm 1969 trong trận Bình-Tây 48 dưới chân đỉnh Chư-Pa, Đại Đội 1/TĐ11 BĐQ của tôi đánh cứu viện cho ĐạĐội 4/ TĐ11 BĐQ của Tr/ Úy Nguyn Ln (K20 VB). Trận này quân nhân đơn vị ca tôi và Ln bị thương khá nhiu. Từ đầu trận, người lính mang đồ ngủ của tôi, anh B1 Trung đã bị bn bể hông phải. Đã có nhiều chuyến tải thương đi mà Trung vẫn còn ngi chờ trên bãi đáp. Tôi hỏi ti sao anh không lên máy bay về bnh vin, anh phân bua,
- EmchxemcóaibàngiaođồngcaTrungÚyxong,emmớiyênlòngđivề.
Tôi ngỡ ngàng kêu lên,
- Trời ơi! Sao mày khờ thế! Cứ quăng đại cho ông thường v! Lên tàu ngay! Lun quở đây đến chiu, hết tàu tản thương. Qua đêm máu ra hết thì chết!
Trung giao đồ ngủ ca thy anh ta cho ông thường vụ đại đội, bàn giao kỹ lưỡng nhim vụ ca mình ri mi chu lên chuyến tải thương cuối cùng về Quân Y Vin Pleiku. Vết thương của anh nng lm, sau ngày lành bệnh, anh B1 Trung đã được giải ngũ lãnh tàn phế 100%.
Những người lính ca tôi dễ thương như thế ấy! Họ chỉ biết vâng lời người chỉ huy mình, bt kể đúng hay sai. Cp chỉ huy ra lnh tử th, họ tử th; cp chỉ huy ra lnh rút lui, họ rút lui; không ý kiến, không bàn cãi phán xét mà chỉ có tuân lnh thi hành. Họ đã cùng tôi bao tháng ngày đồng hành qua nhng chiến trường rc la, tPleime qua Kiến-Đức ti Lâm-Đồng ri về Xuân-Lc. Những người lính của tôi không màng đến vinh quang, mà chỉ phng sự cho cái vinh quang của người chỉ huy mình. Vinh quang một đời của người cm quân là mt món n, nợ vi tổ quc, nvới đồng bào, và nợ vi thuc cp ca mình, những người đã hi sinh cho cái vinh quang mà mình đã một thi nhận được. Là người cm quân, vinh quang là cu cánh, vinh quang là ý nghĩa của cuc sng.
Tôi không có dp tham dự vào cuc phn công tái chiếm chợ Xuân-Lc, khách sn Long-Khánh và Cua Heo cũng như những cuc giao tranh trong khu trung tâm thxã. Tin tức liên quan đến mt trận hướng tây tôi hoàn toàn mù tt. Suốt mười ngày du sôi la bỏng tháng Tư Long-Khánh 1975, TĐ 82 BĐQ chỉ biết có mt trđông nam thị xã mà thôi.
Bên hướng đông suối Rét là Lữ đoàn 1 Dù của Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh (K15 VB) làm búa. Bên hướng tây
suối Rét là cái đe do Thiếu Tá Vương Mộng Long (K20 VB) chỉ huy, gồm TĐ 82 BĐQ tăng cường thêm mđại đội của TĐ3/ 43 BB, một đại đội Địa Phương Quân của Tiu-Khu Long-An và một đại đội Điạ Phương Quân từ Bình-Long di tn v.Làm đe thì đỡ công di chuyển, đỡ mt thân xác, dễ kiểm soát đội hình, quân s.Nhưng làm đe cho Dù thì quả là mt mạng như chơi! Pháo Dù nó tưới như mưa, làm đe bị lãnh tản đạn là thường. Trong trận này có ba người lính Thượng ca tôi thit mng vì tản đạn của pháo Dù. Tháng Tư 1975 tôi đã chôn họ ngay bên dòng suối Rét. Tôi đã cầu nguyn cho linh hn họ yên vui trên đường phiêu du về nguyên quán Pleiku.
Từ ngày đầu chiến dch, mt anh phóng viên chiến trường ca mt tờ báo ở Sài-Gòn, đã có mặt bên tôi không ri. Anh có dáng lòng khòng dong dỏng như một triết nhân. Anh mặc đồ trận, đội nón sắt, nhưng không trang bị súng ng. Anh chỉ có cái máy nh, quyn sổ tay, và cây bút làm hành trang. Ngày mà đạn pháo Dù bao trùm sui Rét cái lu của anh nhà báo rách toang. Cũng may anh thoát chết vì lúc đó anh đang ở với ĐĐ1/TĐ 82 BĐQ của Th/Úy Hc, anh bn chụp hình cái tank cháy ngày hôm trước nơi hàng rào bc ca Tri PB 181. Giữa tháng Tư, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù tung ra nhiều đợt tn công mãnh lit nhm vào một trung đoàn Cộng-Sn Bc-Việt trong đồn điền chôm chôm hướng đông nam suối Rét. Chúng tôi ở bên này b, hào hng quan sát pháo Dù nổ rn tri phía bờ bên kia. Từ nơi đồn điền Thống Tướng T, cán binh CSBV tng tp chy túa ra bìa rng, nhy ùm xung sui Rét. Nhng tay súng Pleime nhả đạn từ từ và chính xác. Những người lính Bc-Vit bt lên khi mặt nước như những con cá trm c, quy mnh mt ln rồi chìm luôn...
Nhng tiếng hô “Biệt Động! Sát!” hòa ln tiếng súng M 16, M 60 làm cho mt số cán binh CSBV vừa ló đầu ra trng trống đã vội chạy ngược li phía bìa rng. Rồi cũng có người cm cờ trng chy từ trong bìa rng ra bờ suối, súng AK dơ lên cao khỏi đầu: Thế là họ đầu hàng!
  • -  Thôi! Vt súng xung sui ri lội sang đây! Vứt súng xung suối! Dơ tay lên cao khỏi đầu, lội sang đây! Nghe rõ chưa?
  • -  Dạ cháu nghe rõ !
Tôi và người phóng viên nhà báo mồi cho ba anh cán binh CSBV ba điếu thuc lá. Họ còn rt tr, chỉ độ mườlăm. Bơ phờ mt ng, mt qung thâm.
  • -  Cu my tui ri?
  • -  Dạ thưa thủ trưởng, cháu lên mười sáu !
  • Saođibộđộismthế?Mớimườisáumàđãđilínhrồià?
  • -  Cháu là thanh niên xung phong. Thủ trưởng ca cháu nói rng Min Nam gii phóng ri, chúng cháu
    chỉ vào để tiếp thu thôi !
  • -  Thế đánh nhau mấy ngày nay cu thy thế nào?
  • Thưa thủ trưởng, nhà cháu sợ l!
  • Thôi đừng s, chc nữa có người đưa cậu về Sài-Gòn. Hết chết rồi, đừng s!
  • -  Thủ trưởng có nói tht không hử thủ trưởng? Nhà cháu sợ chết lm thủ trưởng ơi!
Đôi mắt trẻ thơ ngơ ngáo. Ngón tay cậu bé run run cầm điếu thuốc thơm đưa lên môi, chỉ sợ nó rơi... Thì ra thếNhng cậu bé này được đưa vào đây là để ... tiếp thu Min Nam!
Một hôm, Đại Tá Hiếu gọi tôi vào máy để “check fire”. Tôi liếc qua nơi cần ha tp.! Cái tọa độ ấy chng liên hệ gì ti quân bn, không trở ngi! Rồi Đại Tá Hiếu li gọi tôi vào máy để “check fire”. Rồi tôi li trả lời, “không trở ngại!” Cứ vy, ba bn ln hỏi qua, đáp lại. Chiu hôm y tôi nghe mt tiếng “ùm!” âm vang hướng đông bc.Tôi đã từng nghe B 52 đánh cận phòng nhiu ln trên chiến trường Cao-Nguyên Vùng 2. Tôi đã nghe quen tiếng nhng trái bom 500 cân Anh, 300 cân Anh thun thút từ trên mây xanh, nhng tiếng “ủn!... ủn!” theo đuôi nhau chui trong không khí kiếm mc tiêu. Nghe tiếng bom nổ chùm, tôi có thể phân biệt được đó là Box 3km x 1km, Box 2km x 1km, hoc Box 1km x 1km.
Tiếng “ùm!” lần này có vẻ như âm vang của một Box B 52 đánh gọn ô vuông mi chiu 1km x 1km ngày nào? Tôi thy mt ct bụi đỏ dâng cao dn dn ti mây. Tri cao và mây xanh ngt. Có mt chiếc C 130 còn lượtrên vùng. Tôi nghĩ, chắc chiếc C 130 là tác giả cú “ùm!” vừa qua. Mãi sau này tôi mi biết tiếng “ùm!” đó là một trong hai trái CBU 55 (hay CBU 85) được xử dng trong trn Xuân-Lc. Mt trái được thxung vùng Suối Tre hướng Tây Bc Long-Khánh, tôi không nghe báo, trái thứ nhì thì được thả xung chận đường kẻ thù đang nhắm tiến vào khu vc phòng thủ của Trung Đoàn 43/ SĐ18 BB trong đó có TĐ 82 BĐQ tăng cường.
Mt trn tạm yên thì phái đoàn Thượng Hạ Vin từ Sài-Gòn đã bay ra tới tn cui sân bay Long-Khánh để ủy lo những người lính Vùng 2 đang đổ máu bo vệ mảnh đất còn li của quê hương nơi Vùng 3. Những gói
quà, nhng cái bt tay, nhng li ha hẹn khen thưởng làm ấm lòng người chiến sĩ. Tôi nằm trên võng dướtàn cây điều ln ht, lòng bun nhớ thương vợ con tôi không rõ giờ này ra sao. Những người lính dưới quytôi cũng vậy, mặt người nào cũng không vui, thân nhân chúng tôi đã rơi vào tay địch nơi chân trời cũ xa xôi Ban-mê-Thut, Pleiku...
Mt sm mai, từ hướng đông, chiến xa địch dàn hàng tiến về vòng đai phòng thủXuân-Lộc. Đại Tá Hiếu gi tôi và cho biết ln này bộ binh tùng thiết ca CSBV có vẻ đông hơn những đợt tấn công trước đây nhiều. Pháo binh bạn đã bắn tối đa để chận địch. Tôi thy vài ct khói bc lên từ nhng chiếc tank bị cháy. Có mt chiếc T 54 bbắn đứt xích cách vòng rào tri PB 181 không xa lm. Chúng tôi nghe tiếng búa ca bộ độCSBV gõ trên thành xe, chúng đang sửa cái xe tank bị đứt xích! Pháo binh ttrong vòng đai liên tiếp trc xạ hướng vào chiếc T 54 bị thương. Địch không phnng. Tiếng búa chm sắt cũng im. Họ án binh chờ lnh? Ri bên quân bạn cũng không thấy ai yêu cu tác xạ thêm, pháo binh của ta cũng tạm ngưng.
Từ trưa tới chiu chng vng, mt trn yên tĩnh lạ lùng. Khi mt tri va lặn, pháo địch từ nhiều hướng khác nhau tp trung trên thành phố Xuân-Lộc, đủ loi súng nng, bn thng, cu vồng, có điều khác lạ là tt cả đều là pháo tầm xa (?) Pháo địch kéo dài cỡ mt giờ đồng hồ rồi im hơi. Màn đêm buông xung, tôi nghe tiếng động cơ chiến xa nổ r, ri nghe tiếng bánh st chạm đường đất đá, âm vang kéo dài từgn ri xa dn. Toán tiền thám BĐQ ngoài vòng đai báo cáo, chiếc T 54 bị đứt xích đã được kéo đi và cả đoàn chiến xa dàn hàng
ngang ngoài vòng đai phòng thủ cũng đang rút đi (?) Tôi báo cáo sự việc này cho Đại Tá Hiếu, ông cũng ngạc nhiên không hiểu vì lý do gì, địch đang chuẩn bị mt cuc sống mái thì đột nhiên đổi hướng.
Những ngày sau đó tình hình im ắng như tờ, nhng con ve su trên ngọn điều ln ht ct tiếng hòa ca điệu cui Xuân trong khung cnh thật là tĩnh mịch êm ả đồng quê. Nhng cây chuối trên đồi rủ lá. Nhng si khói lam từ mái rạ bay cao. Khong ba giờ chiều ngày 20/04/1975 Đại Tá Hiếu cho xe ra sân bay đón tôi vào họp hành quân. Ông ru ru,
- Ông Toàn ra lnh cho chúng ta bỏ Long-Khánh rút về Bà-Rịa, ông Đảo vừa được lnh và cho tôi biết. Tôi đón chú vào cho chú hay để mà chun b, chút nữa ông Đảo hp vi ông Toàn xong trở về sẽ có lnh chi tiết sau.
Tôi ngi với Đại Tá Hiếu mlúc thì có điện thoi của Tư Lệnh, đại khái ông cho biết, lnh bỏ Long-Khánh là từ Tng Thống. Địch không vây Long-Khánh nữa mà đi bọc về đánh Biên-Hòa và thủ đô Sài-Gòn nên quân ta phi bỏ Xuân-Lc, về bo vTh-Đô. Tướng Đảo cc lc phản đối vụ trit thoái này nhưng Tổng Thng và Tướng Toàn đã quyết định ct tiếng, tiếp tế, ym trợ cho SĐ 18 để ép sư đoàn này thi hành lệnh lui binh.
Tôi được lệnh rút TĐ 82 BĐQ về ngã ba Tân-Phong trước tám giờ đêm chờ lnh. Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân cun lu, lp hm hố phòng thủ khi đêm rơi.
Cuối tháng Ba năm 1975 chúng tôi đã làm việc này ở Kiến-Đức, chúng tôi đã bỏ lại sau lưng một trận địa, mt kẻ địch kinh hoàng đến độ hai ba ngày sau mới dám mon men vào điểm trú quân đã bỏ trng của đơn vị BiĐộng Quân mt thi ngang dọc Vùng 2. Tôi đã rút đi, theo lệnh, để li Kiến-Đức hàng chc nm mồ thuc cp ca mình bên QL 14. Qun Kiến-Đức và Đồn Pleime cách nhau không bao xa, cũng còn là trong lãnh thổ Vùng 2! Lần này mười hai người lính ca Pleime ngủ li bên bsui Rét, lạ lẫm quê người, quanh đây chỉ có điều ln ht, chuối, xoài và đồng cỏ mênh mông. Nơi này thật xa nhng ngọn núi hùng vĩ Chư Gô, Chư Don, thật xa con sông mơ màng Ia Meur lững lờ quanh năm. Công lao khó nhọc dặm trường nửa đường đứt gánh.
Đơn vị tôi va di chuyn ngang cng Tòa Hành-Chánh tnh Long-Khánh thì Đại Tá Phạm Văn Phúc, tỉnh trưởng đã chờ ở đó, Đại Tá yêu cu tôi cho Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đi với đoàn quân của Tiu-Khu Long-Khánh, và ông xin được tháp tùng tôi trong cuc rút lui. Tôi từ chi với lý do, “Đại Tá có cả mt tiu khu, Đại Tá phi chỉ huy h, là cp chỉ huy ca họ, Đại Tá không thể đi theo tôi mà để họ không người chỉ huy.” Đại Tá, hiểu ra, cám ơn tôi đã có lời nhc nhở nhim vụ ca ông. Chúng tôi bt tay từ bit. Mãi tnăm 1979 tôi mi gp lại Đại Tá Phúc trong Tri Ci To Nam-Hà A ngoài Bc. Trong cuộc rút binh, Đại Tá Phúc đã bị bắt khi đi được nửa đường Xuân-Lc, Bà-Ra và bị giữ trong tri tù từ ngày đó.
Ra ti QL 1 tôi phải cho quân đi hàng một và cách lề trái đường vài chục mét. Khi đến ngã ba Tân-Phong tôi được lnh ngng li chờ lnh. Trên QL 1 nhng chiếc xe cam nhông chở đầp lính ngi hai hàng, xe chnhư bay, chiếc này bám đuôi chiếc khác. Xe mở đèn pha sáng choang. Có những người lính bộ binh lưng mang nặng ba lô, súng đeo vai đi sát hai bên đường. Mt anh lính bộ binh chy từ bên phi sang bên trái
đường, bị trượt chân té, văng nón sắt. Chiếc xe cam nhông chạy qua, đè ngang hai chân anh. Anh lính la hét đau đớn được mt câu thì chiếc xe cam nhông thứ hai đã đè đủ năm chiếc bánh bên trái qua người anh ta. Tôi nghe rõ tiếng “rốp!” khi bánh xe lăn qua đầu anh. Cái xác dp lép của người lính cách chân tôi khong hai mét. Tôi kéo xác anh vào lề đường. Cái căn cước quân nhân cho tôi biết tên người xu số là Nguyn Thành Long, sinh quán Long-An.
Hai bên đường, người đi như chảy hi, giữa đường, xe cứ nối đuôi nhau. Tôi chkhoảng mười phút thì Đại Tá Lê Xuân Hiếu, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 cùng người liên lc truyn tin ca ông ti gp tôi. Tháp tùng Đại Tá Hiếu còn có ông Trung Tá Linh, Sĩ Quan Phụ Tá Hành Quân của Trung Đoàn 43. Đại Tá Hiếu cho tôi biết, Chuẩn Tướng Đảo chọn TĐ 82 BĐQ làm lực lượng bo vệ Bộ Tư Lệnh di chuyn. Không lâu sau đó, mt chiếc Jeep trờ ti, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo cùng bn Quân Cnh nhy xung, chiếc xe chạy đi ngay.
Chúng tôi xác định nhim vụ, trao đổi tn số rồi lên đường. Nhim vụ được phân chia rõ ràng: Tướng Tư Lệnh chỉ huy toàn thể trận điạ. Đại tá Hiếu chỉ huy cánh quân của TĐ 82 BĐQ và TĐ1/43 BB của Thiếu Tá Nguyn Khắc Tung (K20 VB) đi theo sau. TĐ 82 BĐQ chịu trách nhim bo vệ Chuẩn Tướng Tư Lệnh trên đường di chuyển. TĐ 3/43 BB tùng thiết, được đặt dưới quyn Trung Tá Nô, Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 5 Kỵ-Binh. Riêng TĐ 2/43 BB của Thiếu Tá Nguyn Hu Chế đóng quân trên núi Thị phi gánh chu nhim vụ nng nề nht ca cuc trit thoái, làm lực lượng đoạn hu của SĐ 18 BB.
Đường Liên Tnh Lộ Long-Khánh, Bà- Ra nhỏ và hp. Ra khi ngã ba Tân-Phong một đỗi, tôi thy nhng bành đạn pháo binh xếp dc lề đường, đây là bãi tiếp tế của sư đoàn, xa về hướng nam để đánh lạc pháo địch. Tuy vy mi chiu hôm ấy địch đã phát giác bãi này, và pháo binh CSBV đã đánh phá đoạn đường này cả giChúng tôi đi bên trái đường, thnh thoảng chân tôi đá phải những xác người nm chết ri rác đó đây, những người dân chy giặc, trúng đạn pháo chết oan, nhng cái xác còn mm, có cái còn toàn thân, có cái chỉ còn mt phần hình hài con người. Tôi đi ngang qua đồn điền Michelin vào lúc công nhân ở đây đã lên xe chy từ lâu. Những gia đình chậm chân thì khăn gói tất t, vợ chng con cái hi hả lên đường. Có nhng béthơ chừng năm, bảy tui, chân bó áo bó qun tng cc vi to. Ti nghiệp cho bé, chân non đường dài!
Tôi chnh nhớ đến ba đứa con tôi ở Ban-Mê-Thuột, đứa ln nht mi bn tui, vtôi lại đang mang bầu. Ban- Mê-Thuột đã rơi vào tay giặc từ đầu tháng Ba năm 1975. Gia đình tôi đã rơi vào tay giặc khi tôi gng sc bo vệ gia đình những người khác Qung-Đức. Đầu tháng Ba, khi có tin địch sắp đánh Ban-Mê-Thuột, tôi đã gởi một cái điện khn cấp cho BCH/BĐQ/QK2 và BTL/QĐII cho phép tiểu đoàn tôi vềphòng thủ thị xã này. Không ai trả lời cái điện cầu xin trên. Đây là nỗi ân hn sâu xa nhất trong đời lính chiến của tôi, đó cũng là nỗi bun
ám nh suốt đoạn đời còn li của người chỉ huy trc tiếp ca tôi, Chuẩn Tướng BĐQ Phạm Duy Tt.
Đoạn đường vài chc cây số từ Tân-Phong đi Bình-Ba, Bà-Ra thực ra không có gì là đáng ngại đối vi nhng người lính sơn cước của TĐ 82 BĐQ. Nhưng cái nhiệm vnng nề bo vệ Tư Lệnh Hành Quân đã làm tốc độ tiến quân ca chúng tôi giảm đi nhiều so vi khả năng. Đi chừng na giờ tôi li phải cho đơn vị dng quân bố trí chờ đơn vị theo sau. Quân nhân ca những đơn vị khác đi hàng một trên đường, vy mà vn chậm hơn nhiu so với đội hình tác chiến mt hàng dc của TĐ 82 BĐQ đi sâu gần bìa rng trái trc l.
Có lúc ha châu soi khi ngừng quân, Tư Lệnh quan sát bên đường mt lúc ri hi tôi,
- Quân của Long đâu sao qua không thấy?
Tôi phi gii thích vi ông rằng đơn vị tôi đã được tp luyn thành thói quen, bt clúc nào dng quân, mngười lính tự động núp vào bụi cây, gò đất, nếu không có gìn np, họ phi ngi thủ thế, súng trên tay sn sàng tác x. Hỏa châu không đủ soi sáng đội hình, nên Tư Lệnh không thy rõ h.
Nghe tôi gi
ải thích có lý, Tướng gật đầu,
- Well well, very good!
Ti mt cái cầu nơi con suối sâu, nước chảy ào ào, đoàn quân qua cầu hàng dc, ri chuyn sang hàng ngang tiến sâu về hướng bìa rừng, khi an ninh đã sẵn sàng, tôi mi mời Tư Lệnh và Đại Tá Hiếu ri vị trí n np tiếp tục lên đường. Chúng tôi đến gia cu thì nghe từ đầu dc phía sau, tiếng chuông xe đạp, “kính coong! kính coong!” Ri một người đàn bà la lớn,“Ê các cha! Xe tui không có thng, tránh xa! Tránh xa! ” Thế là tụi tôi và Tư Lệnh đứng nép mt bên cu, cu không có lan can, chỉ sợ ngườđi xe đạp lao vào mình thì chc mình sẽ rt xung sông trình din Hà-Bá!
Khi người đi xe lướt qua trước mt, nhờ ánh ha châu soi, chúng tôi thy rõ mặt người va la, mt bà trung niên rất béo, cưỡi chiếc xe đàn ông loại để thồ đang vèo vèo lao xuống dc. Cht chiếc xe vướng cục đá, tưng lên, trệch hướng, và lao xuống dòng nước trắng xóa đang réo ầầm dưới kia. Chúng tôi nghe tiếng thét của người đàn bà ấy ngân dài trong thung lũng, “Á !...Á !...Á !...” rồi thì... “Ùm!” Sau dư âm của tiếng “Ùm!” cnh vt li trở về bình yên. Tôi rọi đèn xuống để quan sát tình trạng người bị nn thì chỉ thy mt khối đen trôi theo dòng nước cun nhanh.
Đoàn quân vẫn tiếp tục hành trình. Tư Lệnh vừa đi vừa đàm thoại vi nhng cánh quân ở xa. Vì cùng tn s, tôi biết Trung Tá Trn Minh Công Trung Đoàn 48/SĐ 18 BB, Đại Tá Ngô Kỳ Dũng Trung Đoàn 52/SĐ 18 BB đang ở nơi nào. Khi đến gn ngã ba Xà-Bang thì cánh quân của tôi đã bỏ đơn vị theo sau một đoạn hơi xa. Trong bìa rng sâu tôi nghe tiếng súng báo động của địch. Nhng tiếng “Tắc!Tắc!...Tắc!...” hai ngắn, mt dài, từ hướng Xuân-Lc tiến dn tng chng về hướng Nam . Rõ ràng địch đang âm mưu gì đây!
Đại Tá Hiếu thì cứ luôn bận tâm đến đứa con đi đoạn hậu, TĐ 2/43, đơn vị này bắt đầu ri núi Th. Tôi rt khâm phc cái trầm tĩnh và sức chịu đựng của người sĩ quan đàn anh này. Chân ông còn tháp một mnh platinum vì chiến thương, vậy mà ông cố theo bén gót những người lính miền núi mà không để hé chút du hiu mt nhc nào, quả là mt sự cố gắng phi thường.
Sắp đến ngã ba Xà-Bang, tôi thy mt cái xe Citroen dân sự bị bn xp bánh, nm giữa đường. Khi tôi rọi đèn pin vào trong xe thì thy hai ghế trước bỏ trng, trên ghếsau là xác mt bà cụ già. Trên tay bà cụ còn ôm mcái cơi trầu. Cái cơi trầu bung np, nhng lá trầu đẫm máu nm ri rác trên nệm xe. Tư Lệnh xúc động bùi ngùi nhìn cái xác người dân nằm đó, người dân bỏ cuc giữa đường dn ti chn bình an. Bun rầu đóng cửa chiếc xe Citron li, tôi nhủ thầm,“Li ti chúng tôi! Li ti chúng tôi!” Rồi tôi lâm râm đôi lời cu nguyn cho người nn nhân chiến cuc.
Đến ngã ba Xà-Bang thì Tướng Tư Lệnh mt lm rồi, ông đề ngh,
  • Long ơi! Có nên cho anh em nghỉ một chút được không?
  • Địch nó đã phát giác ra cuộc rút quân ca chúng ta ri, chc chn có bôn tp truy kích. Vị trí này rt
    nguy him không dừng quân được đâu Thiếu Tướng. Nhất là ban đêm, đang đi mà ngừng li nm xung là bị ngủ mê ngay, rt khó dy nổi mà đi tiếp. Gng vài giờ na là ti chỗ an toàn. Cố lên đi Thiếu Tướng!
Tôi va từ chi, vừa kéo tay Tư Lệnh tiến lên. Tôi huýt gió bài “The Longest Day” Tư Lệnh huýt gió theo, và
chúng tôi tiếp tục bước đi. Hướng Xuân-Lc vn ì m tiếng đại bác. Ha châu lp lòe phía chân tri xa.
V
a lúc y trên máy liên lc của Trung Đoàn 43 BB, Thiếu Tá Dư, TĐT 3/43 BB báo cáo rằng đoàn cơ giới ca anh và Trung Tá Nô Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh đã gặp quân Dù án ngữ ngõ vào Bình-Ba, họ đang chờ xác nhn ca cp trên ri mi cho phép quân Xuân-Lc tiến vào. Tướng Tư Lệnh thở phào nhẹ nhõm, thế là chuyện “link-up” với quân bạn đã xong, bây giờ chỉ còn chuyn theo dõi an nguy của đoàn hậu quân là Tiu- Khu Long-Khánh, Lữ Đoàn 1 Dù và Tiểu Đoàn 2/43 BB.
Chúng tôi dấn bước tiến nhanh về phía trước, xa xa vng li tiếng gà gáy sm. Khi chúng tôi nhìn thy ánh đèn dầu của xóm thôn le lói, cũng là lúc máy truyền tin ca Tiu-Khu Long-Khánh báo tin cho Tư Lệnh rõ rng họ đang chạm địch. Rồi đến tin tc Lữ Đoàn Dù chạm địch. Nhng khẩu pháo Dù đặt bên đường đầu xóm bđầu tác xạ tng tràng ym trợ cho quân bn. Mt tri hừng đông, một chiếc xe Jeep chạy đến đón Tướng Tư Lnh và tùy tùng ca ông. Chiếc xe thứ hai đến đón Đại Tá Hiếu, Trung Tá Linh và anh lính truyn tin Trung Đoàn 43 BB.
Tôi cho đơn vị đi sâu vào hướng làng xã ri dừng quân dưới mt bụi tre làng. Tôi cho các đại đội bố quân, cngười canh gác. Đầu da ba lô, mt tôi nhíp li rt nhanh. Mt tri lên cao khi ngn cây, tôi thc dy bi tiếng động cơ của mt trực thăng chỉ huy đáp bên căn cứ ha lc của Dù. Ba người cao ln nhy xung, chiếc tàu bay đi.Không rõ những người va xung máy bay là ai, chỉ thsau khi trao đổi vài lời gì đó với nhng pháo thủ Dù, họ quay sang tiến về phía TĐ 82 BĐQ. Khi họ đến gn thì tôi nhận ra Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Úy Đức tùy viên ca ông, và mt anh lính mang máy truyn tin. Tôi ra lnh cho tiểu đoàn tập họp năm đại đội dàn chào. Sau khi bắt tay tôi, Tướng Toàn đi một vòng, bt tay từng người lính đứng trong hàng. Ông chỉ vn tt, lặp đi, lặp li, có mt câu,Good! Gii! Tiểu đoàn ni giỏi lắm!”
Ri ông quay qua tôi nhỏ ging,
- Thôi cho anh em giải tán đi Long, ở đây sát nách căn cứ Mây-Tào, ti nó pháo bt cứ lúc nào, nguy him.
Tôi cười,
- Pleime tứ bề là địch, vậy mà Trung Tướng xuống thăm, tụi tôi vẫn đội hình đàng hoàng dàn chào; còn ở đây thì có cái gì đáng ngán mà bỏ lễ nghi quân cách?
Tướng Toàn cũng cười theo,
, nhc Pleime tc là chú mi nhc khéo ta còn nợ cái lon trung tá ca chú mi trận đó có phải không? Thôi về Long-Bình kỳ này ta đền cho! Chịu chưa?
Rồi Trung Tướng Toàn bt tay tôi từ giã, có xe chờ đưa ông vào Hội Đồng Xã Bình-Ba hp với Tướng Đảo. Tướng Toàn không lạ gì chúng tôi, chúng tôi cũng chẳng lạ gì Tướng Toàn. Trong thời gian Tướng NguyVăn Toàn giữ chc vụ Tư Lệnh Quân Đoàn II, ông thường ghé thăm Pleime và Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân. Tướng Toàn đã chứng kiến khả năng đơn vị này qua nhng trận đánh lẫy lừng, Căn Cứ 711, Pleime, Đạo Trung. Trong năm 1974 Tướng Toàn đã hai lần gắn Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu lên hiu kỳ tiđoàn này. Sau đó ông thuyên chuyển về làm Tư Lệnh Quân Khu 3. Tháng 4/ 1975 Quân đoàn II tan rã. Khi được tin báo rng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân còn đang lặn li trong rng già Bo-Lộc, chính Tướng Nguyễn Văn Toàn đã ra lệnh cho Không Quân Vùng 3 Chiến Thut cu tiểu đoàn này về Long-Khánh chiu ngày 6/4/1975.
Chiều hôm đó, tại sân bay Long-Khánh, Tướng cũng chỉ ngn gn mt câu, Good! Gii! Tiểu đoàn ni giỏi lm!” Chúng tôi đã đáp lại li khen ca ông bng nhng chiếc T 54 cháy bên rào Tri 181 PB, và bng nhng khẩu phòng không nước thép còn xanh biếc được trưng bày ở sân bay Long-Khánh.
Trưa hôm đó tôi vào gặp Chuẩn Tướng Đảo trong Hội Đồng Xã Bình-Ba, ông cho biết Lữ Đoàn 1 Dù đã thành công dit xong nhng con cht chặn và đang trên đường tp trung vùng bc xã Bình-Ba. Riêng tin tc liên quan đến Tiu Khu Long-Khánh thì còn mù mờ. Trung Tá Đình (K10 VB) Tiểu Khu Phó đã tử trn vì mt quB 40 trúng ngay xe ông. Số phận Đại Tá Phúc, Tỉnh Trưởng thì chưa rõ rệt, còn đang phối kim. Tôi mượn xe và tài xế ca Chuẩn Tướng Đảo để ra Bà-Ra, vào trung tâm tiếp cư, dò tên gia đình vợ con tôi trên danh sách nn nhân chiến cuộc, nhưng không thấy tin tc gì ca Ban-Mê-Thut c.
Khi tôi về li Hội Đồng Xã Bình-Ba thì Đại Tá Hiếu cho tôi biết địch đã bôn tập truy kích đúng như dự đoán của tôi. Chúng chặn đánh quân bạn ngay ti ngã ba Xà-Bang, Trung Tá Đình chếở đây, Đại Tá Phúc cũng bị địch
bở địa điểm này. TĐ 2/43 BB của Th/Tá Chế thì đang bị xe tank CSBV truy lùng, phi ln trn trong rng cao su để tìm đường rút về hướng Long-Thành. Ngày hôm đó Tổng Thng Thiu từ chc trao quyn li cho cụ Trần Văn Hương. Tiểu đoàn tôi rút vào nhà dân ngủ qua đêm. Sáng hôm sau chúng tôi rút về Long-Bình, đơn vị tôi xut phái từ Sư Đoàn 18 và được trả về cho Biệt Động Quân. Từ ngày về Long-Bình tôi mải lo đi tìm tin tc vợ con, không màng ti vic gặp Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn III để “đòi nợ” cái lon trung tá.
Ngày 28/4/1975 Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân được lệnh vào vùng hành quân phía sau lưng Trường Bộ Binh Long-Thành. Vì lệnh đến bt ngờ do đó 1/3 quân số đơn vịxut tri về không kp giờ di chuyn nên tiểu đoàn vào vùng vi quân số 161 người, thiếu vng Thiếu Úy Đặng Thành Học, người sĩ quan đại đội trưởng ưu tú nht ca tôi. Tiểu đoàn có nhiệm vụ ngăn chặn địch từ hướng bc tiến về, đồng thi hỗ trcho một đơn vị bn (?) tái chiếm trường Bộ Binh Long-Thành. Ngọn đồi chúng tôi phòng thủ là mt cái tiền đồn cũ, có ba cái lô cốt nh, không hm hố địa đạo, không có hàng rào. Chúng tôi chỉ chất sơ sài những viên đá tổ ong thành mt chiến lũy cấp thi.
Tối hôm đó, từng đoàn xe vận ti của CSBV đã đổ hàng trăm bộ đội xung khu rừng hướng bc ngọn đồi trc mà chúng tôi trn gi. Khong tám giờ tối, đoàn xe bật đèn rọi đường cho bộ binh theo sau T 54, dàn hàng ngang xung phong biển người vào tuyến phòng ngự ca Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân. Ngay loạt đạn 100 ly mở màn, ba cái lô cốt đã bị bn sập. Đại Úy Hoàn và anh lính truyn tin ca ông là những người chết đầu tiên. Tôi bò sang hố ca ông, qun tấm thân đầy máu ca ông bng tm mn poncho line.
Khi tôi di chuyn sang kim soát vị trí phòng ngự ca Thiếu Úy Thủy, ĐĐT/ ĐĐ 4 thì bộ binh địch bắt đầu hô “Xung phong! ” Chúng tôi phải dùng lựu đạn M 26 đểchặn bước tiến ca gic. Nhng trái M 72 bn xéo qua xéo li từ đỉnh đồi đã khiến cho chiến xa CSBV thoái lui. Dọc theo sườn đồi có bốn, năm chiếc T 54 bị hạ nm
bất động. Hai khu M 60 bn chéo cánh sẻ đã vô hiệu hoá đợt sóng biển người đầu tiên của địch. Tôi gi cho Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân xin không ym và pháo yểm nhưng đơn xin yểm trợ không có ai trả li! Chđèn xe vụt tt, tiếng động cơ chiến xa rú lên. Khoảng năm sáu chiếc T 54 tắt đèn và mở hết tc lc chy lên đồi. Chúng đảo mt vòng chữ “C” trên vị trí đóng quân của Biệt Động Quân, xích xe đè nát thân thể nhng người không kp tránh né ri chạy đi. Sự kin này tht là bt ng!
Chúng tôi chưa kịp phng thì chiến xa địch đã chạy khut xuống chân đồi. Ông Thượng Sĩ Phạm Hoa, thường vụ tiểu đoàn bị xích xe tank nghiến nát ngc chết cùng với anh B1 Bích, người nấu cơm cho tôi. Khẩu ci 81 bị đè gãy càng bất khin dng. Chun Úy Thiều, trung đội trưởng trung đội súng nng ngi ôm xác thượng sĩ Hoa khóc rưng rức. Cả tiểu đoàn đều biết Chun Úy Thiu là ng cử viên rể quý của “Thượng Sĩ Tía”. Ái nữ của thượng sĩ thường vụ đang là hoa khôi lớp 11 trường Trung Hc Minh-Đức Pleiku.
Tôi chưa kịp chn chnh lại đội hình thì đạn 100 ly lm dội trên đỉnh đồi, rồi đèn xe lại bt sáng soi đường bộ binh địch mở đợt biển người tiếp theo. Lần này chúng tôi ngăn chúng từ xa bng nhng quả lđạn M 67 nổ chm. Chúng tôi ném hết sc thng tay nhng quả M 67 xung chân đồi. Đèn xe soi rõ những thân hình cán binh Cng-Sn long chong ngã chúi xuống đất vì trúng mnh lựu đạn. Hai khu M 60 vẫn đan cánh s. Những xác người chết đè lên nhau, những tiếng thét đau đớn vang lên man rợ trong đêm đen.
Đèn xe lại tt, tiếng chiến xa li hú. Những nòng M 72 đã sẵn sàng phóng đạn. Hai khẩu M 60 được nâng cao lên nhm vào nhng xạ thủ phòng không trên tank. Vài chiếc tank bị trúng đạn, nm li gia triền đồi, nhưng
có hai chiếc đã lọt được vào vị trí phòng ngự ca Biệt Động Quân. Xạ thủ 12,8 ly trên xe đã chết, cái dây xích còn móc vào chân xạ th, treo tòn ten cái xác xạ thủ đung đưa bên hông chiến xa.
Trong khi chiếc tank hướng đông đã xoay sang trái chạy xuống đồi thì chiếc thứ nhì còn đang trở đầở khoảng đất gia hai cái lô ct. Có mt Biệt Động Quân đứng xổng lưng giữa đồi chờ đợi cái xe tank đó. Chiếc xe nhm anh lao ti, anh tránh sang mt bên, ri nm sợi xích treo cái xác bên hông xe đu lên pháo tháp. Một quả lựu đạn ném gn vào lòng xe, quả thứ hai, quả thứ ba... bùng! bùng ! bùng! chiếc xe long chong ri ngừng trên đỉnh đồi. Người Biệt Động Quân nhy xung xe, anh xả một băng M 16 vào cái thây ma cán binh Cng-Sn, xạ thủ phòng không. Hết đạn, anh thay băng đạn khác, nhả đạn tiếp tc, cái thây ma toe tua tng mnh. Ri anh ngi bt xuống đất ôm mt khóc rống lên. Ngườy là Chun Úy Thiu! Tôi cứ để cho ngườsĩ quan trẻ khóc, khóc cho vơi hận thù, cho vơi nỗi thương tâm.
Khong nửa đêm, đèn xe lại rọi sáng, đạn 100 ly li cày xi ngọn đồi không tên. Tôi không thể nm vng được con số tn tht ca quân bạn là bao nhiêu. Chúng tôi đã xử dụng đến nhng ng M 72 cui cùng. Tôi
gi Thiếu Úy Thy và cho lệnh anh đi gom góp lựu đạn ca những người đã tử trn về chia cho những người còn sống để đánh địch ln chót. Dưới ánh đèn xe, những người lính xâm lăng trong đợt xung phong này hình như không còn hăng hái như hai đợt trước; họ bắt đầu bò lên, nương theo những mô đá nhấp nhô. Như vậy làđịch đã mất tinh thn! Khi nhng quả lựu đạn va bt mỏ vt nổ “Ùm!” thì nhng anh bộ đội Cng-Scũng quay lưng chạy thc mạng ngược về hướng rng. Thế là đèn pha vụt tắt. Dưới chân đồi có tiếng rên la ca lính CSBV bị thương. Hai khẩu M 60 tưới đạn không thương tiếc về hướng có nhng tiếng rên la đau đớy.
Chừng mười phút sau đoàn xe tank li ào t tiến lên đồi ln thứ ba. Lần này chúng theo đội hình hai hàng dc, đâm thẳng lên đỉnh đồi rồi đồng loạt pha đèn, chia hai ngả, trái, phi giày xéo vị trí trú quân ca chúng tôi. Trên thành xe không có tên xthủ phòng không nào! Những đứa nạp đạđại bác thì thò đầu lên thụp đầu xung ném nhng trái thủ pháo xung nhng cái lu poncho và nhng hố cá nhân. Chúng tôi giờ này như những con thú bị thương, miệng la, “A !...A!... A!... Biệt Động!...Sát!” tay bóp cò M 16 nhắm những cái đầu địch nhp nhô trên pháo tháp. Mt trái thủ pháo ném trúng lưng tôi, tôi chụp nó ném đi hướng khác, trái thủ pháo nổ trên tri, thủ pháo Cng-Sn nổ chậm hơn lựu đạn M 26 của ta, sát thương cũng không bằng M 26 ca ta. Bây giờ chúng tôi đã mất trí, không còn biết sợ chết na! Chúng tôi trthành những tay giác đấu, gng sleo lên lưng những con quái vật T 54 để đánh quả lựu đạn sau cùng.
Tôi đã leo lên đến cái pháo tháp, tôi ln tay tìm trên si dây ba chc, còn mt qumini và mt quả lân tinh! Tay tôi chưa kịp mở cht quả mini thì một cái đầu địch nhô lên, nó đập mt trái thủ pháo trên mũ sắt ca tôi ri ra sc xô tôi xung xe. Hai con vt ging co, quả mini tụt tay tôi rơi mất! Tôi gỡ cái nón st ra, thng tay choảng vào đầu thng giặc, đầu nó ngúc ngoc, ri nó thp vào lòng xe. Tôi đang cố gỡ trái lân tinh móc trên dây ba chc thì cái pháo tháp xoay tròn, tôi bị gạt rơi xuống xe. Tôi lăn sang sau mộụ đá, chiếc xe đảo mt
vòng, xích sắt cày sâu trên đất, cát bụi tưới rát mt, tôi thoát chết trong đường tơ kẽtóc!
Chúng tôi giờ này như những con cp bị thương, bị dồn vào đường cùng! Chúng tôi chy bộ đuổi theo đoàn chiến xa đang rút đi. Trong đám bụi mù, mt Biệt Động Quân đã bỏ được mt trái M 26 vào trong lòng chiếc T 54 hướng ĐĐ 4/TĐ 82 khiến nó quýnh quáng đâm vào hông một chiếc khác ri lt nhào xung triền đồi bc cháy. Chiếc xe bị đâm trúng thì đứt xích, từ trên xe, bn tên CSBV nhy xuống, chúng chưa đứng vng thì năm sáu họng M 16 đã nhả hàng trăm viên đạn trên người chúng, bọn xâm lăng chết không kp than tiếng nào. Có vài Biệt Động Quân còn bám trên pháo tháp nhng chiếc tank đang đổ dc, họ cố chúi mũi M 16 vàoming pháo tháp bóp cò vô vng. Pháo tháp xoay tròn, họ rơi xuống đất. Chiếc xe chạy sau đè lên thân họĐoàn xe biến dạng trong đêm.
Đêm ấy tôi đã sống sót sau mt trn chiến đấu đẫm máu và dã man nht trong cuộc đời mười năm trận mc. Cái lu ca tôi bp dí. Chiếc máy PRC 25 của tôi cũng bẹp dí. Chiến xa địch đã rút xa, tôi còn đứng sng trên đỉnh đồi nhìn theo chúng. Tay tôi còn cm chc quả lựu đạn lân tinh cui cùng, tiếc rTôi bước ro quanh ngọn đồi trọc đã xác xơ. Thuộc cp ca tôi chết phơi thây trên miệng h, la liệt đó đây. Không còn khu M 72 nào, lựu đạn cũng cạn, pháo ym không có, không yểm cũng không có. Tôi quyết định cho đơn vị rút lui. Mt trái mìn cóc nổ dưới chân Chuẩn Úy Trung, người sĩ quan trẻ theo sau lưng tôi đi kiểm tra trn chiến, bàn chân trái của Trung toe ra như miếng bã trầu đẫm máu. Tôi dìu Trung vào cái lu sp của Đại Úy Hoàn, cái xác Đại Úy Tiểu Đoàn Phó đã bị pháo 100 ly xẻ thành tng mảnh, đầu văng một nơi, tay chân văng một ng.
page10image52736 page10image52896
Tôi chp cái máy PRC 25 ca ông ra lnh cho Trung Úy Trần Văn Phước ĐĐT/ĐĐ 3 cho người dìu Chun Úy Trung xuống đồi. Ri tun tự, các Đại Đội 3,4,2,1 rút lui qua con suối dưới chân đồi.
Trên đồi, nhng anh hùng Pleime va tử trn, nằm phơi thân trên miệng hố cá nhân. Không có tiếng rên la nào c, tt cả đã ra đi êm ả, tt cả đã ra đi kiêu hùng. Đêm 28/4/1975 máu chúng tôi, máu những người BiĐộng còn tưới ướt đẫm mt ngọn đồi không tên của quê hương.
Khi chúng tôi xung tới vườn cam dưới chân đồi thì xe tank địch ào ạt lên đồi ln thứ tư. Những trái đạn 100 ly bắn dài, vượt qua đỉnh đồi, bay trên đầu chúng tôi rồi rơi bên bờ suối. Đất đá bụi mù sau lưng chúng tôi. Trong đêm tối, tôi cho quân li nhanh qua bờ bên kia.
Đêm 28/4/1975, chợ chiu ri! Không ai đáp ứng li xin tác xạ ym trợ. Không ai đáp ứng li tôi xin mt trái ha châu! Qua suối, tôi cho đơn vị dấu đội hình trong bãi mía. Từ đây, sáng hôm sau tôi nhìn lại bên kia b, ngọn đồi trọc đẫm máu không một bóng người, nhng chiếc xe tank bị phá hủy đêm qua đã được kéo đi.
page11image11968 page11image12128
Không thy bóng dáng quân thù, không nghe tiếng động cơ chiến xa. Ngọn đồi nằm phơi dưới nng mai im ng. Vào lúc này, bên trái cái lô cốt hướng bc, cnh mt gc bằng lăng, Đại Úy Hoàn TĐP/TĐ 82 BĐQ thoải mái nm ngủ yên trên đó, đầu một nơi, thân một ng. Có cả chục người lính can trường yên nghỉ trên ngđồi này cùng ông. Gió ngàn lng lng, hoa mía bay lng lộng...
Sáng 29/4/1975 tôi nhìn về hướng căn cứ Long-Bình, có vài cột khói đen bốc lên từ nóc các nhà vòm. Người ta lại đốt gia tài, người ta lại rút đi rồi ! Người ta rút đi đâu? Tôi vẫn còn ở sát địch quân, vậy mà người ta li nỡ bỏ tôi mà đi, như ở Qung-Đức, Blao! Kiểm điểm li quân s, cả tiểu đoàn còn được 107 người!
Tôi l
y cái PRC 25 rà nhng tn số quen. Tôi bắt được ging nói ca Hằng Minh và Đại Tá Hiếu, Sư Đoàn 18 đang lún càng tại Trng-Bom! Khi biết điểm đứng của tôi, Đại Tá Hiếu hn gp nhau ti cng số 10 Căn Cứ Long-Bình.
Muốn đi về Long-Bình tôi phi tt qua ngã H-Nai. Pháo hai bên Quc Cộng đều tp trung trên vùng này.
V
ậy là, đội pháo ta đi! Chúng tôi đi như những cái thân robot, đạn nổ đằng trước, đạn nổ đàng sau, đạn nổ bên hông, đạn nổ chụp trên đầu. Chúng tôi không nghe gì c, cứ thế mà đi, hướng Long-Bình, Okay! Tiến lên! Nơi ô cửa sổ hai bên đường, có nhng họng súng AK chĩa vào đoàn quân đang di chuyển; chúng tôi không màng ti chúng; chúng tôi cứ đi trong mưa pháo; pháo bạn từ hướng tây di tới; pháo địch từ hướng đông câu sang. Pháo cứ rơi; những người trúng đạn ngã xung; những người chưa trúng đạn cứ bước đi; những bước đi không hồn; đường phố đầy hố đạn, đường phố đầy xác người...
Tôi vào tới vòng rào Căn Cứ Long-Bình vào lúc bui chiu. Tôi là dân Vùng 2 không biết cái căn cứ này có bao nhiêu cổng, đi tìm cái cổng số 10 thì biết nó ở đâu? Tôi thấy mt doanh tri có cái bng Bộ Chỉ Huy/ Liên Đoàn 32 Biệt Động Quân btrng, vậy là thày trò tôi nhào vào đấy hạ trại. Đếm đầu thuc cp trong sân, Tiu
Đoàn 82 Biệt Động Quân giờ ấy còn 67 người! Như thế là chẵn 40 người chết rải rác trên đoạn đường mưa pháo từ H-Nai về ti Long-Bình!
Cơm nước xong thì trời đã tối. Chúng tôi ngủ như chết. Đến ba giờ sáng 30/4/ 1975 Trung Úy Trâm, Sĩ Quan Truyn Tin Tiểu Đoàn dựng tôi dy,
- Có tin từ liên đoàn ra lệnh cho chúng ta rút về Sài-Gòn!
Tôi uể oi ngi dy,
- Mẹ kiếp! Về Sài-Gòn! Về Sài-Gòn làm cái con mẹ gì đây!
Xa cui tri, hỏa châu le lói hướng Sài-Gòn. Tôi ra lnh cho tiểu đoàn (!) chuẩn bị lên đường.
T
i ngã ba Tam-Hip chúng tôi gp mt bộ phn của Sư Đoàn 22 Bộ Binh, cùng là dân Vùng 2 mất đất, ththương nhau, tay dơ vẫy vẫy...
Cu xa lộ đã bị xe tank CSBV chận đường, chúng tôi rẽ vào thành phố Biên-Hòa. Thành phố vng lnh buthiu. Tôi cho đơn vị đi dọc theo đường xe la, ngang qua những căn nhà tôle ổ chut, mt vài khuôn mt buôn phấn bán hương thò ra, ánh đèn vàng hiu hắt, đôi câu vọng cổ vang theo sau lưng người chiến bi, “Anh ơi! Bỏ gươm đao, bỏ mộng khanh tướng công hu mà về với em đi! Chiến cuộc đã tàn rồi! Anh ơi! Anh ơi! ” Chúng tôi cúi đầu lầm lũi mà đi. Chúng tôi đi qua cầu Đôi rồi đến cầu Hang, tôi cho đơn vị dng li tp vào nhng cái quán bỏ trống bên đường. Từng đoàn quân xa, chiến xa có Biệt Động Quân và lính Dù tùng thiết đi qua mặt chúng tôi, hướng về Sài-Gòn. Khong 8 giờ sáng thì không còn chiếc xe nào đi qua đó nữa. Lúc này
trong ngôi chùa bên kia đường tàu, những nhà sư áo vàng đang chất đồ đạc lên xe, xe hướng về Sài-Gòn. Ít lâu sau xe ca họ li quay trở li chùa không hiu vì lý do gì.
Tôi cho quân tiếp tục lên đường. Khi còn cách Th-Đức chng vài cây số người lính có radio loan tin Tng Thống Dương Văn Minh đang kêu gọi đầu hàng! Tôi cho quân dng li, tt vào một quán cà phê bên đường. Bà chủ quán thy tôi, ái ngi vn nhỏ volume cái máy thu thanh.
- Hết ri! Chị cứ mở ln cho tôi nghe vi! Hết ri! Chị ơi!
Bà chủ quán mở radio lớn hơn, và tôi nghe rõ từng li kêu gi ca ông Tng Thng, ông tân Tng Thng nước Vit-Nam Cng-Hòa mà tôi không rõ ông ta đã lên ngôi lúc nào!
Ngoài cng có cái xe Jeep từ hướng Sài-Gòn chy lên, một người trông dáng như Tư Lệnh bước xung hi anh Biệt Động Quân trước ngõ điều gì đó, rồi chiếc xe trở đầu phóng đi. Khi tôi ra ngoài đường thì người lính nói có Thiếu Tướng Đảo hi tin Thiếu Tá, vì anh ta mi từ phía sau đoàn quân di chuyển lên đây, nên anh không rõ tôi ngồi trong quán nước, anh nói vi Thiếu Tướng rng anh không biết ông tiểu đoàn trưởng ở ch
nào c, xin Thiếu Tướng chờ một lát để anh ta đi kiếm, nhưng Thiếu Tướng Đảo đã vội vã ra đi. Ngày 10 tháng 5 năm 1975, tôi đang ngồi ung cà phê trước ca nhà ông chiêm tinh gia Trn Cm số 144 đường Nht-To, Ch-Lớn thì bên kia đường một người tóc húi cao, va xung yên chiếc xe đạp thể thao.
Tôi g
i,
Tư Lệnh! Tư Lệnh!
Tướng Đảo ngơ ngác một lúc ri nhận ra tôi, ông bước sang nhp bàn vtôi và chú Trung Úy Phước, con trai bác Cm. Tư Lệnh nói hôm 30 tháng Tư ông có quay lại tìm tôi ở cái quán cà phê bên đường để rủ tôi đem quân trn về Vùng 4, nhưng không thấy tôi, nên dự định không thành.
Tôi nhìn vào m
ắt Tư Lệnh, an i ông,
- Số mnh mà Tư Lệnh ơi!
Chúng tôi xiết tay nhau cảm thông. Vinh quang đành bỏ lại sau lưng, đau lòng mà bỏ lại sau lưng! Trước mt chúng tôi, nhng ngày su thm bắt đầu...
................
Tháng Ba năm 1979 tôi được đưa từ Tri Ci To Phú-Sơn 4, Thái-Nguyên về Tri Nam-Hà A, Ph-Lý. Tôi là thành phn ca toán bốn mươi người có tin tích trn tri, nên bị gii về đây với cái còng trên tay. Khi chúng tôi nhp tri, những người tù trẻ tui can tội Vượt Biên và Phc-Quốc chào đón chúng tôi, những kẻ mang còng, bng những đợt vỗ tay hoan hô tưng bừng. Hôm sau có người nhn vi tôi rng ChNht ti ThiếTướng Đảo chờ mời tôi ăn cơm ở bung số 1.Trưa Chủ Nhật đó tôi tới bung 1 gặp người chỉ huy cũ, ông ở đội lao động cùng Tướng Sang Tư Lệnh Sư Đoàn 6 KQ, Đại Tá Phúc Tỉnh Trưởng Long-Khánh, và Đại Tá Khoái CHT/BĐQ/QK1.Thời gian qua đã mấy năm không gặp, tôi rt vui khi bắt tay Tư Lệnh.
Bữa cơm ấy có tôi, Tư Lệnh, Tướng Sang và một người quen của Tướng Sang. Tư Lệnh cm tay tôi, ging nói đầy hưng phấn,
- Nhng bn trẻ như em đã làm qua tnh ng, xét li mình. Từ nay qua sẽ sng xứng đáng hơn!
Tôi chng hiểu ý Tư Lệnh muốn gì, nhưng tôi tin chắc có điều lạ đang chuyển biến trong tâm tư Tư Lệnh (?) Nhng bui chiều sau đó, mỗi khi đi lao động về, chúng tôi đều tụ tp bên bờ giếng trước buồng 7 để nghe Thiếu Tướng Đảo, Đại Tá Trí, Đại Tá Quy, và Đại Tá Minh hòa nhc. Họ là nhng nhạc sĩ siêu quần, tiếng đàn ca họ có thể ví vi tiếng đàn của một siêu “Band”, nhất là cây măng đô lin của Đại Tá Minh. Chuyn tụ tđàn ca đến tai ban chỉ huy tri. Thằng “chèo” Lực xung yêu cu ban nhc và khán giả gii tán. (Ở tri Nam- Hà A chúng tôi gi những tên công an coi tù là “chèo”, hay “phường chèo”).
Những người trẻ tui hô to,
Đả đảo “chèo” Lực!
Li qua tiếng lại, lũ “chèo” ùn ùn kéo xuống vây quanh đám đông. Tướng Đảo ln tiếng,
Anh không đủ tư cách nói chuyện vi tôi! Anh về gi Trung Tá Xuyên, trại trưởng xuống đây nói chuyn vi tôi!
Trung Tá Xuyên không xuống, mà đoàn vệ binh thì càng lúc càng đông hơn. Chúng lùa tù về bung, khóa ca li, khóa cả ca ra sân ln, không cho các bung giao thip vi nhau. Sáng hôm sau mt cái xe Molotova bít bùng đến tri Nam-Hà A đem Tướng Đảo và vài ông tướng khác đi mất bit.
 
Sau khi chia tay nhau ngày ở Tri Ci To Nam-Hà A, tôi và Tư Lệnh chưa có dịp gp li nhau. Tam nhân đồng hành trên Liên Tnh Lộ Long-Khánh, Bà- Rịa tháng Tư năm xưa thì có hai người bị giữ trong tri tù 13 năm là tôi và Đại Tá Hiếu, người thứ ba là Thiếu Tướng Đảo thì bị nhốt lâu hơn. Ông và ba vị tướng na ca Quân Lc Vit-Nam Cng-Hòa là những người sau cùng ca chế độ được tha khỏi gông cùm 17 năm sau khi Min Nam sụp đổ.
Bây giờ là tháng Tư! Ba mươi năm đã trôi qua. Bao nhiêu lần kỷ niệm xưa hiện về. Tháng Tư nào cũng chở đầy ni bun!
“Hằng Minh đây Tiên Giao gọi! Tháng Tư lại về ri Hằng Minh ơi!”
Vương Mộng Long